Bài hát về Đức Mẹ

MẸ LA VANG

I.            ĐÔI NÉT VỀ LINH ĐIA LA VANG: Vào cuối thế kỷ 18, Việt Nam bị chia làm 2 miền. Miền Bắc do Chúa Trịnh cai trị. Miền Nam do Nhà Nguyễn cầm quyền. Vì muốn thống nhất hai miền, nhà Nguyễn yêu cầu nước Pháp giúp đỡ. Nhưng nhóm trí thức, được gọi là nhóm “ Văn Thân” phản đối việc can thiệp của nước Pháp, nhóm này tuyên bố Quang Trung làm vua. Vua Quang Trung chiếm Miền Bắc, nhưng chẳng may chết sớm, để lại quyền kế vị cho con là Cảnh Thịnh vừa tròn 10 tuổi. Tháng 8/1798, các người cộng tác của vua Cảnh Thịnh ra lệnh baùch hại các người công giáo, vì nhóm Văn Thân quả quyết rằng: sự hiện diện của Nước Pháp là trách nhiệm của người công giáo.

Bị bách hại, các tín hữu Công Giáo cùng với gia đình trốn vào rừng La Vang, cách xa làng mạc của họ khoảng 60 cây số. Can đảm đối phó với mọi khó khăn, mỗi ngày họp nhau lại đọc kinh Mân Côi kính Ðức Mẹ Maria. Một ngày kia, Ðức Mẹ hiện ra, bồng Chúa Giêsu Hài Ðồng, có hai Thiên Thần hầu cận. Ðây là lần hiện ra thứ nhất và sau đó còn tiếp tục nhiều lần khác nữa. Ðức Mẹ an ủi nhóm tín hữu trốn tránh đó và hứa che chở họ khỏi các sự dữ.

Năm 1886, các vụ bách hại chấm dứt. Một nhà nguyện đơn sơ được xây cất tại đây. Nhà nguyện này không bao lâu trở nên quá nhỏ hẹp. Từ năm 1885, có nhiều nhà nguyện được xây cất tiếp theo nhau; nhà nguyện sau cùng, có ba chuông nhỏ, được Ðức Cha Eugenio Maria Giuse Allys (tức Ðức Cha Lý), lúc đó là Giám Mục đại diện Tông Tòa giáo phận Huế, làm phép.

Trong những năm từ 1886-1928, La Vang thuộc giáo xứ Cổ Vưu, trong tỉnh Quảng Trị. Ðể đáp lại nhu cầu mỗi ngày mỗi nhiều của các đoàn hành hương, năm 1928 Ðức Cha Lý quyết định lập La vang thành một giáo xứ.

Năm 1958-1959, Ðại Hội Thánh Mẫu Toàn Quốc được tổ chức tại La Vang, với sự hiện diện của Ðức Hồng Y Agagianian, Tổng Trưởng Bộ Truyền Giáo và là Ðặc Sứ của ÐTC Gioan 23.

Ngày 13.4.1961, Các Giám Mục miền Nam Việt Nam họp nhau tại Huế, và khấn hứa với Trái Tim Cực Saïch Mẹ Maria là sẽ xây cất một Ðền Thánh, khi hoàn cảnh cho phép và khẩn xin Ðức Mẹ ban tự do và hòa bình cho hai miền Bắc-Nam.

Và trong thư luân lưu ngày 8.08.1961, các giám mục công nhận La Vang là Trung Tâm Thánh Mẫu toàn quốc.

Ngày 22.08.1961, ÐTC Gioan XXIII cất nhắc nhà thờ La Vang lên bậc "Tiểu Vương Cung Thánh Ðường".

II.                 ĐỨC MARIA TRONG LÒNG GIÁO HỘI

Trong Giáo Hội, lòng sùng kính Đức Maria đã có từ thời các thánh giáo phụ, đặc biệt thánh Bênađô, dựa vào nền tảng Kinh Thánh, đã rao giảng và viết rất nhiều về lòng sùng kính Đức Maria và giải thích những nhiệm lạ cao siêu Thiên Chúa đã thực hiện nơi Mẹ, cách riêng mầu nhiệm Vô Nhiễm Nguyên Tội và Trọn Đời Đồng Trinh.

-       Trong Phụng vụ, Giáo Hội dành riêng một chỗ đứng đặc biệt cho Đức Maria: 12 lễ trong năm kính nhớ các mầu nhiệm liên quan đến Đức Maria; tháng 5, tháng 10 và ngày thứ Bảy (nhất là ngày thứ Bảy đầu tháng) là những ngày dâng kính Mẹ để kính nhớ và đền tạ Trái Tim Vô Nhiễm Nguyên Tội Mẹ và cầu nguyện cho hòa bình thế giới.

-       Hằng ngày vào buổi sáng, trưa, chiều, các tín hữu thường đọc kinh truyền tin (Mùa Phục sinh thì đọc kinh Lạy Nữ vương thiên đàng) để kính nhớ biến cố Đức Maria được truyền tin và Con Thiên Chúa xuống thế làm người qua tiếng xin vâng của Mẹ. Ngoài ra còn có các kinh: Linh hồn tôi ngợi khen Thiên Chúa, kinh Trông cậy, Hãy nhớ, Kinh Kính chào Đức Nữ Vương, Kinh Lạy Nữ vương, Kinh Cầu Đức Bà…

-       Cũng có nhiều bản Thánh Ca nhằm ca ngợi và cầu nguyện với Đức Mẹ, như bài hát nổi tiếng thế giới là bài ‘Ave Maria’ của Franz Schubert. Hoặc bài ‘Như Phúc Lộc Triều Nguyên’ (Thơ Hàn Mạc Tử và nhạc hoà âm của Hải Linh). Không biết bao nhiêu bức họa và tượng Đức Mẹ nổi tiếng trên thế giới do các họa sĩ hay điêu khắc gia lừng danh như Michel Angelo với bức họa ‘Pieta’; Fra Angelico; Raphael; Germain Philon… Sách vở, báo chí và các thi phẩm viết về Đức Mẹ qua các thời đại cũng rất phong phú, đặc biệt là bài Thiên Thần truyền tin cho Đức Maria của văn hào Pháp Paul Claudel.

-       Để chống lại các lạc thuyết cũng như tỏ lòng yêu mến Mẹ, Giáo hội qua các công đồng đã xác tín:

·                     Đức Maria là Mẹ Thiên Chúa được Công đồng Êphêsô tuyên tín năm 431: “Tuyệt thông những ai không tuyên xưng rằng Đấng Emmanuel thực sự là Thiên Chúa, và bởi thế, Đức Trinh nữ là Mẹ của Thiên Chúa”.

·                     Mẹ Maria Trọn Đời Đồng Trinh được Công đồng Latêranô tuyên tín năm 649.  

·                     Tại Lộ Đức, trong lần hiện ra sau cùng, (lần thứ 18) với Bernadette, Đức Maria đã xác tín “Ta là Đấng Vô Nhiễm Nguyên tội” và tín điều này được Đức Piô IX long trọng tuyên bố bằng sắc lệnh “Ineffabilis Deus” vào ngày Lễ Mẹ Vô nhiễm 8/12/1854. Thánh nữ Bernadette được Đức Giáo Hoàng Piô XI phong thánh năm 1933..

·                     Mẹ Maria Hồn xác Về Trời được Đức Piô XII long trọng tuyên bố bằng Tông hiến “Munificentissimus Deus” ngày kính các Thánh 1/11/1950, như sau: “Để tôn vinh Thiên Chúa toàn năng là Đấng đã ban muôn vàn ơn lành đặc biệt của Ngài trên Trinh nữ Maria, để tôn kính Con Ngài là vua muôn đời, Đấng đã chiến thắng tội lỗi và sự chết, để Người Mẹ cao cả của Người được hiển vinh hơn, và để toàn thể Giáo hội hân hoan phấn khởi; … Tôi công bố, tuyên xưng và xác nhận như là một tín điều được Thiên Chúa mặc khải: Người Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội của Thiên Chúa, Đức Maria Trinh nguyên, sau khi hoàn tất cuộc đời trần thế của mình, đã được lên hưởng vinh quang trên trời cả xác lẫn hồn” (TCF. 207).

-        Trong thế kỷ XX, Đức Thánh Cha Piô XII, cũng đã thực hiện hai việc liên quan trực tiếp đến Đức Maria, đó là việc ngài cho mừng lễ Trái tim Đức Mẹ và Đức Mẹ Nữ Vương, và việc phong hiển thánh cho hai vị thánh của Mẹ, thánh Louis Marie Grignion de Monfort ngày 20/7/1947 và thánh Catherine Labouré (Tu Hội Nữ Tử Bác ái Thánh Vinh Sơn) ngày 27/7/1947. Đức Thánh cha nói về thánh nữ như sau: “Phục hồi lòng sốt sắng đã bị nguội lạnh trong hai hội dòng; nhận chìm toàn thể thế giới vào trận lụt đầy những mẫu ảnh kim loại nhỏ là những gì chứa đựng các ơn xót thương của Đấng Vô Nhiễm Nguyên tội ban cho cả hồn lẫn xác…”.

-        Công đồng Vatican II dành chương VIII của Hiến chế Tín lý về Giáo Hội Lumen Gentium nói về Đức Maria trong Mầu nhiệm của Chúa Kitô và Mầu nhiệm Giáo hội. Trước khi kết thúc Công đồng, Đức Thánh Cha Phaolô VI công bố trước mặt toàn thể các nghị phụ của Công đồng, Ngài đã chính thức tuyên bố: “Ta mong muốn Mẹ Thiên Chúa phải được cả thế giới Kitô hữu tôn vinh và khẩn cầu hơn nữa bằng tước hiệu (Mẹ Giáo hội) tuyệt diệu này”.

-        Tông huấn Signum magnum được ban hành nhân dịp kỷ niệm 50 năm Fatima (13/5/1967) và Tông huấn Marialis cultus (2/2/1974) là những văn kiện đề cao vai trò của Mẹ Maria trong Giáo hội.

-        Đức Gioan Phaolô II cũng đã đẩy mạnh những suy tư về vai trò của Đức Maria trong chương trình cứu độ (thông điệp Redemtoris mater 25/3/1987) cũng như cổ động những thực hành sùng kính Đức Mẹ.

-        Sách giáo lý Giáo Hội Công giáo được ban hành năm 1992 đã dành cho Mẹ một chỗ đứng đặc biệt khi nhắc đến vai trò của Mẹ trong cả 4 phaàn.

-        Tước hiệu “Đức Maria Mân côi” phát xuất từ biến cố Mẹ hiện ra với Lucia, Phanxicô và Giaxinta. Trong  6 lần, kể từ ngày 13/5 đến 13/10/1917 và lần sau cùng, Mẹ đã khẳng định “Mẹ là Mẹ Mân Côi” và Mẹ khuyên nhủ mọi người: “Hãy ăn năn đền tội, tôn sùng Mẫu tâm Mẹ và siêng năng lần hạt mân côi”. Năm 1948, Lucia vào dòng Kín Camêlô, và qua đời ngày 13/2/2005. Riêng Phanxicô và Giaxinta đã được Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II phong Á thánh ngày 13/5/2000.

-        Đến thế kỷ XXI, vào ngày 16/10/2002 Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II công bố Tông thư về Rosarium virginis mariae (16/10/2002) về Kinh Mân côi và ấn định Năm Mân côi, bắt đầu từ tháng 10/2002 đến 10/2003. Cũng trong Tông thư này, Đức Thánh cha thêm 5 mầu nhiệm sự sáng.

Lòng sùng kính Đức Maria trong Giáo hội quả thật đã có từ lâu đời, và ngày một được xác tín rõ rang hơn về vai trò và vị trí của Đức Maria trong Mầu nhiệm Chúa Kitô và mầu nhiệm Giáo hội. Lòng sùng kính ấy được diễn tả qua nhiều hình thức khác nhau và được đặt nền tảng trên Phúc âm và huấn quyền.

 

III.               LÒNG SÙNG KÍNH CỦA GIÁO DÂN VIỆT NAM ĐỐI VỚI MẸ LA VANG

Lòng sùng kính của giáo dân Việt Nam đối với Mẹ La vang được diễn tả qua những tâm tình và hành động hết sức đơn sơ, bình dân và đôi khi có những cử chỉ vụng về. Những cử chỉ vụng về đó hầu như không gián đoạn nhưng luôn có sự sống động và liên tục. Chúng ta có thể nói lòng sùng kính ấy có đặc điểm: TRUYỀN THỐNG - TIN TƯỞNG - ĐƠN SƠ - PHÓ THÁC:

-     Với truyền thống tốt đẹp, trong các gia đình Công giáo Việt Nam hầu như đều có tập quán đọc kinh sáng tối. Trong đó, việc lần chuỗi Mân côi thường chiếm 2/3 số giờ. Vào tháng 5, tháng 10 phần đông các giáo xứ có tổ chức dâng hoa, đọc kinh tối chung tại nhà thờ, tại tư gia, liên gia, rước kiệu trọng thể, các giáo họ láng giềng đều nô nức về tham dự đại hội, với cờ quạt trống kèn. Tryền thống tốt đẹp này phát xuất từ những yếu tố nội tại và ngoại tại;

§    Nội tại: Người Việt Nam thường có tinh thần quyù trọng maãu heä, những từ “nội tướng”, “nội gia”, “mẫu thân” đều chỉ về người phụ nữ trong gia đình; ảnh hưởng nền lễ giáo Khổng Tử, tôn kính và hiếu thảo với mẹ cha,

§    Ngoại tại: các nhà truyền giáo khi đến Việt Nam, đã tìm ra “bản sắc mẫu tính” nơi tâm lý và văn hóa người địa phương, nên đã áp dụng phương pháp “nhờ Mẹ Maria đến với Chúa Giêsu

Do đó, vào những năm 1798, miền Trung Việt Nam dưới triều Tây Sơn, vua Cảnh Thịnh ban sắc chỉ cấm đạo toàn quốc và đàn áp rất khắc nghiệt, khiến dân chúng phải bỏ nhà bỏ cửa trốn lên núi, vào rừng, soáng chui ruùc raát khoå sôû. Ban ngày lén lao động cực nhọc để kiếm sống, tối đến họ tụ tập khuyến khích nhau giữ vững niềm tin vào Chúa và Mẹ Maria, sốt sắng đọc kinh lần hạt. Với niềm tin ấy, họ tin chắc Mẹ sẽ nhận lời.

-     Vì lo âu, vì khí độc, vì đói kém, vì sợ bị bắt và sợ thú dữ phanh thây ở nơi rừng thiêng nước độc, mầm mống cũng như bệnh tật lan tràn. Họ đặt niềm tin  vào  lệnh truyền của Mẹ, lấy lá cây chung quanh nơi Đức Mẹ hiện ra để nấu nước uống, tin rằng mọi bệnh tật được chữa lành, đồng thời dùng mọi thứ hoa quả  tại rừng Lá Vằng ăn cho đỡ đói lòng. Lạ thay, một khi nghe theo thì bệnh nhân được bình phục, và mọi người không còn thấy thiếu thốn bơ vơ như trước. Ai cũng hiểu là Mẹ đã truyền phép mầu vào đám cỏ cây ở rải rác chung quanh.

-     Lòng mộ mến Mẹ La vang đã đi vào trong thơ ca, sách báo và văn hóa nghệ thuật. Hầu như trên khắp 3 miền đất nước: trong nhà thờ, nguyện đường, tư gia, đều có bàn thờ Đức Mẹ được trân trọng, trang hoàng đẹp đẽ. Nơi làm việc, trên xe, trên cổ, trên mỗi cây nến sáp hay trong phòng riêng hình ảnh Mẹ La vang hiện diện rất sống động và mang đậm nét Á đông.

-     Về những cuộc hành hương kính Mẹ, ngay từ năm 1901, các cuộc hành hương lớn có tính cách toàn quốc được tổ chức và tiếp tục cứ 3 năm một lần, không kể các cuộc hành hương riêng tư, hoặc của các miền, giáo xứ, giáo phận. Đến La Vang tham dự Đại hội Thánh Mẫu, người ta quên hết mọi cảnh hoa lệ đô thành. Họ bất chấp cảnh đi về khó khăn trắc trở. Họ không sợ nắng mưa, cát bụi, họ tự chọn màn trời chiếu đất để nghỉ trú, họ bỏ giày, đi chân không, quỳ giang tay, hôn đất, lần chuỗi cầu nguyện, sốt sắng nhập hàng đi kiệu cung nghinh thánh tượng Mẹ. Họ viếng đàng thánh giá trên những đoạn đường dài cả ngàn thước mà họ không nghĩ đến vất vả, nhọc nhằn trèo đồi xuống dốc… nhất là họ tự động kết thành đợt sóng người đông đảo vô cùng, dồn dập đến với tòa cáo giải, ngày cũng như đêm. Ngoài ra còn có những cuộc hành hương hằng năm tại những nơi Đức Mẹ hiện ra cũng không kém phần sống động: Đức Mẹ Tà pao, Đức Mẹ Trà Kiệu, Đức Mẹ Măng đen, Đức Mẹ Giang Sơn, Đức Mẹ Cồn Trên - An Giang…

-     Hình ảnh Mẹ La vang luôn gắn liền với lòng sùng kính của người công giáo Việt Nam, nên dù sống ở quê nhà hay ở hải ngoại, họ luôn hướng tấm lòng và cầu khẩn với Mẹ La vang. Có lẽ chính vì thế nhiều nơi trên thế giới, có những Giáo xứ và họ đạo mang tước hiệu Mẹ La vang.

-     Lòng sùng kính đối với Mẹ La vang không chỉ nơi những người công giáo mà còn nơi những người thuộc tôn giáo bạn, họ cũng đi hành hương, dâng hoa, đèn nến và cầu xin  Đức Mẹ. Đến với Mẹ, họ nhận được biết bao ơn lành, dấu chỉ và phép lạ về phần hồn và thuyên giảm bệnh tật về phần xác.

Mẹ La vang đã đi vào tâm hồn của người công giáo Việt Nam cũng như đi vào lòng dân tộc Việt Nam trong sự thăng trầm của lịch sử, và là đấng phù trợ cho dân Chúa trong cơn thử thách. Quả thật, sau hơn 200 năm, kỷ niệm biến cố Mẹ hiện ra ở La vang thì ngày nay lòng sùng kính Mẹ hầu như đã đi vào chiều sâu và nội tâm hóa không chỉ dựa trên những hành động thuần túy tôn giáo về lễ nghi: như đi hành hương, rước kiệu, dâng hoa, cung nghinh … mà với bổn phận đem Chúa và Mẹ vào trong môi trường sống, và theo giá trị tin mừng thôi thúc, noi gương tình yêu của Thiên Chúa đối với cận thân. Vì vậy chúng ta không ngạc nhiên khi lòng mộ mến đó đi đến hành động: “với Mẹ, trong Mẹ, nhờ Mẹ và vì Mẹ” và qua Mẹ đi đến với Chúa Giêsu.

IV.  TÓM KẾT:

Câu nói của Thánh Bênađô “nói về Đức Maria thì chẳng bao giờ cùng”, không phải chỉ nói về sự haïn heïp của ngôn từ và hành động khi diễn tả về vai trò, địa vị của Mẹ trong nhiệm cục cứu độ, nhưng vì chúng ta không bao giờ cảm thấy thoả mãn khi tôn vinh, tìm hiểu và mộ mến Mẹ cho đủ. Quả thật, tín lý, tín điều, Thánh Mẫu học, văn hóa nghệ thuật… cũng chỉ có giới hạn trong phạm vi ngôn ngữ, và hình ảnh nhưng tình yêu của người dân Việt Nam đối với Mẹ La vang thì vô tận và không lời lẽ, hành động nào có thể diễn tả hết tấm lòng của tín höõu Việt đối với Mẹ.

Lạy Mẹ La Vang, trong cuộc lữ hành tiến về Nước Trời với biết bao thử thách và cám dỗ, chúng con cảm nhận được Mẹ hằng yêu thương, đồng hành, an ủi đỡ nâng và bảo vệ chúng con, Mẹ dạy chúng con biết năng chạy đến với Chúa bằng tâm tình hiếu thảo, phó thác, nhất là qua tràng chuỗi mân côi, lời kinh đơn sơ, dễ hiểu và sống. Ước chi lòng mến Chúa và yêu Mẹ nơi chúng con được cụ thể hóa qua việc bắt chước Mẹ “biến đời sống chúng ta thành một hành vi thờ phượng, và biến việc thờ phượng thành một hành vi dấn thân” và noi gương các nhân đức của Mẹ: “Trinh nữ lắng nghe và đón nhận Lời Chúa, trinh nữ nguyện cầu và trinh nữ hiến dâng…”.

Xin Mẹ đồng hành với Giáo Hội Việt Nam và từng người công giáo Việt Nam đang thao thức cho một cuộc sống được tôn trọng về phảm giá, tôn trọng công lý, tôn trọng tự do để mọi người được hưởng một nền hòa bình thịnh vượng. Xin Mẹ La Vang giúp Giáo Hội Việt Nam sớm hoàn thành công trình Vương Cung Thánh Đường kính Mẹ đang thi công dang dở. Xin mọi người chung tay góp sức cộng tác với Hội Đồng Giám Mục Việt Nam lo toan xây dựng Vương Cung thánh đường Đức Mẹ La Vang. 

Tháng 12-2014 

Bai viết của Linh mục An-tôn Hồ Quang Hải - Giáo phận Ban Mê Thuột

 

Admin

Các tin khác:

Video
Tin mới