Bài viết về Đức Mẹ

VIỆC TÔN KÍNH ĐỨC MARIA

(Bài viết của Linh mục Trần Ngọc Liên, Gp Đà Lạt) 1. Có một câu nói được các thánh đưa ra khi viết về Đức Maria : “De Maria numquam satis”, viết về Đức Maria không khi nào đủ… Từ lời này, tôi chỉ đơn sơ ghi lại ít dòng tản mạn về việc tôn kính Đức Maria, Mẹ Thiên Chúa và Mẹ Giáo Hội.

Hai tước hiệu “Mẹ Thiên Chúa”“Mẹ Giáo Hội” đều được phụng vụ cử hành, với thánh lễ kính “Thánh Maria, Mẹ Thiên Chúa” vào ngày đầu Năm mới, và lễ ngoại lịch “Đức Maria, Mẹ Giáo Hội” hay “Đức Maria, hình ảnh và khuôn mẫu của Giáo Hội”. Hai tước hiệu này đều được ghi dấu từ Công Đồng : tước hiệu “Mẹ Thiên Chúa” là lời tuyên xưng từ Công Đồng Êphêsô năm 431 và được Đức giáo hoàng Piô XI thiết lập lễ vào năm 1931, dịp kỷ niệm 1.500 năm Công Đồng Êphêsô ; tước hiệu “Mẹ Giáo Hội” là lời kêu cầu của Công Đồng Vatican II được Chân phước Giáo hoàng Phaolô VI dâng lên ngày 21 tháng 11 năm 1964 dịp công bố Hiến chế tín lý về Giáo Hội và được Thánh giáo hoàng Gioan-Phaolô II thiết lập lễ.

Sau Công Đồng Vatican II, nhân bế mạc Năm Đức Tin mừng kỷ niệm 1.900 năm tử đạo của hai Thánh Tông Đồ Phêrô và Phaolô, Chân phước Giáo hoàng Phaolô VI đã thay cho toàn thể Giáo Hội long trọng đọc lời tuyên xưng đức tin, trong đó có đoạn liên hệ đến Đức Thánh Mậu Maria : “Chúng tôi tin Đức Maria là Mẹ trọn đời đồng trinh của Ngôi Lời Nhập Thể, Thiên Chúa và là Đấng cứu chuộc chúng tôi, Chúa Giêsu Kitô (x. Dz.-Sch. 251-252). Do một đặc ân, Đức Maria đã được cứu chuộc một cách khác thường (x. Lumen gentium, 53), vì nhìn thấy công nghiệp của Con mình mà Mẹ được giữ khỏi mọi vấn vương tội truyền (x. Dz.-Sch. 2803), và nhờ ân sủng đặc biệt Mẹ đã vượt lên trên tất cả mọi loài thụ tạo (x. Lumen gentium, 53). Liên kết bằng sợi dây chặt chẽ và bất khả ly với mầu nhiệm nhập thể và cứu thế (x. Lumen gentium, 53, 58, 61), Đức Thánh Trinh Nữ Maria vô nhiễm nguyên tội, sau cuộc đời dương thế đã được đem cả linh hồn và cả thân xác lên hưởng vinh quang trên trời (x. Dz.-Sch. 3903), và, giống như Con chí thánh của mình đã sống lại từ cõi chết và đạt tới trước số phận dành cho tất cả những người công chính. Chúng tôi tin Đức Trinh Nữ Maria, Mẹ Thiên Chúa, Eva mới, Mẹ Giáo Hội (x. Lumen gentium, 53, 56, 61, 63; x. AAS LVI, 1964, 1016), ở trên trời vẫn tiếp tục làm Mẹ các chi thể của Chúa Kitô, cộng tác với việc sinh dưỡng và phát triển đời sống Thiên Chúa trong hết những người đã được cứu chuộc (x. Lumen gentium 62)” (Kinh Tin Kính của Dân Chúa, 30/6/1968 số 14 và 15).

2. Xin được giới thiệu bài suy niệm của Đức Thánh Cha Bênêđictô XVI về mầu nhiệm Đức Maria Mẹ Thiên Chúa, nhân phiên họp khai mạc Thượng hội đồng Giám mục khóa đặc biệt về Trung Đông ngày thứ hai 11 tháng 10 năm 2010 :

Anh chị em thân mến,

Ngày 11 tháng 10 năm 1962, ngày mà cách đây 48 năm, Đức Thánh Cha Gioan XXIII đã khai mạc Công Đồng Vatican II. Ngày 11 tháng 10 năm đó cũng là ngày mừng kính chức vị làm Mẹ Thiên Chúa của Đức Maria và, với cử chỉ đó, Đức Giáo Hoàng Gioan XXIII muốn dâng tất cả Công Đồng cho bàn tay từ mẫu và cho trái tim mẹ hiền của Đức Trinh Nữ. Chúng ta cũng thế, chúng ta cũng mừng ngày lễ 11 tháng 10, và cũng muốn phó dâng Thượng Hội Đồng này, với tất cả những vấn nạn, những thách thức, và tất cả niềm hy vọng cho trái tim mẹ hiền của Đức Trinh Nữ Maria, Mẹ Thiên Chúa.

Đức Thánh Cha XI, năm 1931, đã đưa thánh lễ này vào phụng vụ, nghĩa là đúng 1.500 năm sau Công Đồng Êphêsô, Công Đồng chính thức nhìn nhận tước hiệu Theotókos, Dei Genitrix của Đức Maria. Với tước hiệu cao trọng là Dei Genitrix, là Theotókos, Công Đồng Êphêsô đã tóm kết tất cả giáo lý về Đức Kitô, về Đức Maria, tất cả giáo lý về Ơn Cứu Độ. Vì thế, quả đáng cho chúng ta dành một ít giây phút để suy nghĩ thêm một chút về điều mà Công Đồng Êphêsô nói trong ngày đó.

Theotókos thực ra là một tước hiệu táo bạo. Một người nữ là Mẹ của Thiên Chúa. Người ta có thể đặt câu hỏi: Điều đó làm sao có thể được ? Thiên Chúa là Đấng vĩnh hằng, là Đấng Tạo Dựng. Chúng ta chỉ là thụ tạo, chúng ta ở trong thời gian : làm sao một con người lại có thể là Mẹ của Thiên Chúa, Mẹ của Đấng Vĩnh Hằng, trong khi tất cả chúng ta lại ở trong thời gian, tất cả chúng ta chỉ là thụ tạo ? Vì thế ta hiểu được vì sao có sự chống đối mạnh mẽ, phần nào cũng vì từ ngữ đó. Những người theo phái Nestoriô cho rằng : nói Christotokos thì có thể, còn Theotókos thì không thể. Theós, Thiên Chúa, là Đấng ở bên kia, ở bên trên mọi biến cố của lịch sử. Thế nhưng Công Đồng đã quyết định điều đó và cũng chính với điều đó mà Công Đồng đã đưa ra ánh sáng cuộc phiêu lưu của Thiên Chúa, đưa ra ánh sáng tầm vóc vĩ đại của điều mà Ngài đã làm cho chúng ta. Thiên Chúa đã không khép lại trong Ngài : Ngài đã ra khỏi chính mình, đã kết hiệp sâu xa, trọn vẹn với một con người là Giêsu, đến mức con người Giêsu đó là Thiên Chúa, và nếu chúng ta nói đến Người, thì chúng ta cũng luôn nói đến Thiên Chúa. Vấn đề không phải chỉ là một con người có tương quan với Thiên Chúa sinh ra đời nhưng là, nơi Người, Thiên Chúa đã sinh ra trên trần thế. Thiên Chúa đã ra khỏi chính mình. Nhưng chúng ta cũng có thể nói ngược lại : Trong Người, Thiên Chúa đã lôi kéo chúng ta, đến mức chúng ta không còn ở ngoài mà là ở trong Thiên Chúa, trong thâm sâu ân tình của chính Thiên Chúa.

Triết học Aristote, như chúng ta đều biết, cho rằng giữa Thiên Chúa và con người chỉ có mối tương quan một chiều, nghĩa là không có qua lại. Con người quy hướng về Thiên Chúa, nhưng Thiên Chúa, Đấng Vĩnh Hằng, luôn ở trong mình, không thay đổi : Ngài không thể có tương quan này hôm nay rồi mai lại có tương quan khác. Ngài ở lại nơi mình, Ngài không có tương quan ad extra [với bên ngoài]. Đó là một hạn từ rất lôgic, nhưng lại dẫn đến tuyệt vọng, vì như thế là Thiên Chúa không có tương quan gì với tôi. Với Nhập Thể, với biến cố của Theotókos, điều đó được biến đổi tận căn bởi lẽ Thiên Chúa đã lôi kéo chúng ta vào trong chính Ngài và Thiên Chúa, theo nghĩa này, là tương quan, và cho chúng ta được thông dự vào tương quan trong Ngài. Như thế, chúng ta ở trong Thiên Chúa là Cha và Con và Thánh Thần, chúng ta ở bên trong hữu thể tương quan của Ngài, chúng ta ở trong tương quan với Ngài, và Ngài đã thực sự tạo ra mối tương quan với chúng ta. Chính lúc đó, Thiên Chúa đã muốn sinh ra bởi một người nữ mà vẫn luôn là chính Ngài : biến cố vĩ đại là như vậy. Như thế, chúng ta có thể hiểu được ý nghĩa sâu xa hành vi của Đức Giáo Hoàng Gioan XXIII khi ngài phó thác Công Đồng, Thượng hội đồng, cho mầu nhiệm trung tâm, cho Mẹ Thiên Chúa, người Mẹ đã được Chúa lôi kéo vào trong chính Ngài và như thế lôi kéo tất cả chúng ta cùng với Mẹ.

Công Đồng đã khởi sự với “hình ảnh” (Icône) của Theotókos. Và lúc kết thúc, Đức Thánh Cha Phaolô VI lại nhìn nhận tước hiệu Mater Ecclesiae dành cho Đức Trinh Nữ Maria. Và hai hình ảnh này, hai hình ảnh khai mở và khép lại Công Đồng, có mối liên hệ nội tại với nhau rốt cuộc làm nên một hình ảnh duy nhất. Bởi lẽ Đức Kitô không sinh ra như một cá thể giữa bao cá thể khác. Người sinh ra là để tạo cho mình một thân thể : như thánh Gioan nói trong chương 12 Tin Mừng của ngài – Người sinh ra là để lôi kéo mọi người đến với Người và trong Người. Và như các thư gửi tín hữu Côlôxê và Êphêsô nói, Người sinh ra là để thâu kết vạn vật, Người sinh ra như trưởng tử của một đàn em đông đúc, Người sinh ra để hiệp nhất cả vũ trụ trong Người, đến mức Người là Đầu của một Thân Thể lớn lao. Đức Kitô sinh ra ở đâu thì ở đó khởi sự vận hành thâu hồi, khởi sự thời của ơn gọi, của việc xây dựng Thân Thể Người, xây dựng Hội Thánh Người. Mẹ của Théos, Mẹ của Thiên Chúa, cũng là Mẹ của Giáo Hội, bởi Giáo Hội là Mẹ của Đấng đã đến để hiệp nhất tất cả trong Thân Mình phục sinh của Người.

Thánh Luca giúp chúng ta hiểu được điều đó qua liên hệ song đối giữa chương thứ nhất Tin Mừng của ngài và chương đầu của sách Công Vụ, hai chương lập lại cùng một mầu nhiệm nhưng ở hai cấp độ khác nhau. Trong chương đầu của Tin Mừng, Thánh Thần ngự xuống trên Đức Maria, vì thế Mẹ sinh hạ, và ban tặng cho chúng ta Con Thiên Chúa. Trong chương đầu sách Công Vụ, Đức Maria ở giữa các môn đệ Đức Giêsu, tất cả đang cùng nhau cầu nguyện, khẩn xin Thánh Thần như mây trời ngự xuống. Và như thế, từ Hội Thánh khẩn cầu, với Đức Maria ở trung tâm, mà Giáo Hội, Thân Mình của Đức Kitô ra đời. Hai lần sinh hạ cũng chỉ là một sự sinh hạ duy nhất của Christus totus, của Đức Kitô Đấng ôm lấy thế giới và tất cả chúng ta.

Sinh hạ ở Belem, sinh hạ ở Phòng Tiệc Ly. Sự ra đời của Hài Nhi Giêsu, sự ra đời của Thân Mình Đức Kitô, của Hội Thánh. Đó là hai biến cố hay đúng hơn là một biến cố duy nhất. Nhưng, giữa hai biến cố, có Thập Giá và sự Phục Sinh. Và chỉ qua thập giá mà một con đường được mở ra, con đường dẫn đến Đức Kitô toàn thể, dẫn đến Thân Mình phục sinh của Người, dẫn đến hữu thể phổ quát của Người trong sự duy nhất của Hội Thánh. Và giống như mùa gặt bội hậu nẩy sinh từ hạt giống rơi vào lòng đất, cũng thế, tính phổ quát của các môn đệ trong Thân Mình chết đi và sống lại của Người phát sinh từ Đấng Chúa chịu đâm thâu trên Thập Giá.

Với ý thức về mối liên hệ giữa [hai tước hiệu] TheotókosMater Ecclesiae, giờ đây chúng ta hướng nhìn về cuốn sách cuối cùng của Kinh Thánh, cuốn Khải huyền, trong đó, ở chương 12, cũng xuất hiện chính tổng hợp đó. Người phụ nữ mình khoác mặt trời, chân đạp mặt trăng, và đầu đội triều thiên mười hai ngôi sao, đang trở dạ sinh con. Và Bà sinh con trong tiếng kêu đau đớn. Ở đây, mầu nhiệm Đức Maria là mầu nhiệm Bêlem được khơi rộng tới tầm mức huyền nhiệm của vũ trụ. Đức Kitô được sinh ra luôn mãi trong mọi thế hệ và vì thế, Người đảm nhận, Người thâu họp cả nhân loại trong chính Người. Và cuộc sinh hạ mang chiều kích vũ trụ đó được thực hiện trong tiếng kêu của Thập Giá, trong nỗi đau đớn của cuộc Khổ Nạn. Và máu các tử đạo cũng thuộc về tiếng kêu đó của Thập Giá.

Như thế, giờ đây, chúng ta có thể nhìn vào Thánh vịnh thứ hai của giờ Kinh Trưa (thứ hai tuần IV), Thánh vịnh 81, trong đó ta thấy được một phần của tiến trình đó. Thiên Chúa ở giữa các chư thần – bấy giờ trong Israel, chúng vẫn còn được xem là thần. Trong thánh vịnh này, một thánh vịnh hết sức cô đọng và như một thị kiến mang tính tiên tri, ta thấy các thần mất đi quyền lực của chúng. Những kẻ xuất hiện như là thần thực ra không phải là thần, chúng mất đi tính thần linh và rơi thành bụi đất. Dii estis et moriemini sicut nomine (x. Tv 81, 6-7) : quyền lực tiêu tan, thần thánh lụi tàn.

Tiến trình đó được thực hiện trong hành trình đức tin lâu dài của Israel và được tóm tắt ở đây trong một thị kiến duy nhất, và đó là tiến trình đích thực của lịch sử tôn giáo : tiến trình thần thánh tàn vong. Và như thế, việc biến đổi thế giới, việc nhận biết Thiên Chúa đích thực, sự tàn vong của các sức mạnh thống trị thế giới, là cả một tiến trình đau đớn. Trong lịch sử Israel, chúng ta thấy việc thoát khỏi quan niệm đa thần, việc nhận biết – “Chỉ mình Ngài là Thiên Chúa” – diễn ra trong muôn ngàn đau khổ, khởi từ con đường ra đi của Abraham, tới cuộc lưu đầy, rồi anh em nhà Macabê, đến tận Đức Kitô. Và rồi trong lịch sử, tiến trình quyền lực bị tiêu vong mà sách Khải Huyền nói tới trong chương 12 vẫn tiếp diễn; chương đề cập tới việc các thiên thần bị sa xuống đất, mà thực ra đó không phải là thiên thần, và cũng không phải là thần thánh trên trần thế. Và điều đó xảy ra thực sự, ngay trong thời Hội Thánh sơ khai, thời mà chúng ta thấy các thần thánh, trước hết là vị Hoàng Đế của các thứ thần thánh như vậy, đã mất đi quyền lực của chúng bởi máu của các tử đạo. Chính máu các tử đạo, nỗi thống khổ, tiếng kêu của Mẹ Hội Thánh, đã khiến chúng bị hạ bệ và do đó biến đổi thế giới.

Quyền lực bị hạ bệ như thế không chỉ là việc nhận biết chúng không phải là Thiên Chúa; đó còn là tiến trình biến đổi thế giới, một tiến trình trả giá bằng máu, bằng đau khổ của các chứng nhân Đức Kitô. Và nếu nhìn kỹ, chúng ta thấy tiến trình đó không bao giờ chấm dứt. Nó được thực hiện trong các thời kỳ khác nhau của lịch sử cách luôn luôn mới mẻ; hôm nay cũng thế, là thời điểm mà Đức Kitô, Người Con duy nhất của Thiên Chúa, cần phải được sinh ra cho thế giới, cùng với sự hạ bệ các thần thánh, cùng với đớn đau, và sự tử đạo của các chứng nhân. Chúng ta hãy nghĩ đến các thứ quyền lực lớn lao trong lịch sử hôm nay, hãy nghĩ đến các khối tư bản vô danh đang biến con người thành nô lệ, thành đồ vật hơn là con người, một thứ quyền lực vô danh mà con người phải phụng sự, và cũng vì thứ quyền lực đó mà con người bị hành hạ và ngay cả bị giết hại. Đó quả thực là một sức mạnh hủy hoại, đe đọa thế giới. Tiếp theo, chúng ta hãy nghĩ đến sức mạnh của các ý thức hệ mang tính chất khủng bố. Bạo lực được vận dụng công nhiên nhân danh Thiên Chúa mà nào phải là Thiên Chúa: thực ra là những thần thánh giả hiệu cần phải lột mặt nạ, vì chúng không phải là Thiên Chúa. Rồi chúng ta hãy nghĩ đến thuốc phiện, một sức mạnh chẳng khác gì của con thú hung dữ đang dương móng vuốt trên toàn cõi đất và hủy diệt: đúng là một thứ thần thánh nhưng là thần thánh giả hiệu cần phải hạ bệ. Và hãy nghĩ đến cách thức sống đang lan tràn bởi ý kiến của đám đông: ngày nay, người ta sống như thế đó, hôn nhân chẳng còn đáng kể, khiết tịnh chẳng còn là một nhân đức, và còn bao nhiêu điều khác.

Những ý thức hệ đang ngự trị, đang ra sức áp đặt như thế không phải là những thần thánh. Và trong nỗi thống khổ của các thánh, trong đau đớn của các tín hữu, của Mẹ Hội Thánh mà chúng ta là thành viên, những thứ thần thánh đó phải bị hạ bệ, và điều mà thư gửi tín hữu Côlôxê, thư gửi tín hữu Êphêsô nói đến phải nên hiện thực: các quyền lực thống trị, các sức mạnh phải bị hạ bệ và trở thành những kẻ thần phục Đấng Chúa duy nhất là Đức Giêsu Kitô. Cuộc chiến đấu mà chúng ta đang tham dự, sự tiêu hủy quyền lực của thần thánh, sự tàn vong của các thần thánh giả hiệu, tàn vong bởi không phải là thần thánh mà chỉ là những sức mạnh đang hủy diệt thế giới, đã được sách Khải Huyền gợi ra trong chương 12, xuyên qua một hình ảnh huyền bí mà dường như đã có nhiều chú giải khác nhau rất hay. Sách Thánh nói đến việc con rồng phun nước ra như dòng sông để cuốn trôi người phụ nữ đang chạy trốn. Bà hầu như không thể thoát khỏi việc bị dòng nước nhấn chìm. Thế nhưng đất đã hút cạn cả dòng sông và nó không thể làm hại bà nữa. Về dòng sông, tôi nghĩ có thể giải thích cách dễ dàng: đó là những trào lưu đang thống trị tất cả và đang muốn làm cho đức tin của Hội Thánh tiêu tan, và đức tin hầu như không thể đối lại với sức mạnh đang ra sức áp đặt, như thể đó mới là lý tính duy nhất, cách thức sống duy nhất. Còn đất đã hút tan các trào lưu đó là đức tin của những người đơn thành, không để mình bị các dòng nước cuốn trôi, đức tin đó cứu người Mẹ và cứu cả người Con. Chính vì thế mà Thánh Vịnh nói – thánh vịnh đầu của giờ kinh trưa – đức tin của người chất phác là khôn ngoan đích thực (x. Tv 118, 130). Khôn ngoan đích thực của lòng tin đơn thành, không để mình bị các dòng nước nuốt chửng, đó là sức mạnh của Hội Thánh. Và như thế chúng ta lại trở về với mầu nhiệm Đức Maria.

Cũng còn lời cuối cùng trong thánh vịnh 81, “movebuntur omnia fundamenta terrae” (Tv 81, 5), nền móng cõi đất bị đảo điên. Ngày nay chúng ta đang chứng kiến điều đó, với các vấn đề về khí hậu, nền móng cõi đất quả đang bị đe dọa, và là vì chính thái độ sống của chúng ta. Những nền tảng bên ngoài bị chao đảo là vì nền móng bên trong bị đảo điên, những nền móng luân lý và tôn giáo, là đức tin mà từ đó phát xuất cách sống ngay lành. Và chúng ta biết rằng đức tin là nền tảng và nói cho cùng, nền móng cõi đất không thể bị chao đảo nếu đức tin, theo nghĩa là khôn ngoan đích thực, vẫn vững vàng.

Và rồi lời Thánh Vịnh nói: “Xin hãy chỗi dậy, lạy Chúa, xin hãy xét xử cõi đất” (Tv 81, 8). Vì thế, giờ đây chúng ta cũng thưa lên với Chúa: “Xin hãy chỗi dậy lúc này đây, lạy Chúa, xin giữ lấy cõi đất trong bàn tay của Ngài, xin che chở Hội Thánh Ngài, che chở nhân loại, che chở trái đất này”. Và một lần nữa, chúng ta hãy dâng mình cho người Mẹ của Thiên Chúa, dâng lên Đức Maria lời nguyện xin: “Lạy Mẹ là kẻ tin vĩ đại, là Đấng nâng trái đất lên tận trời cao, xin hãy phù giúp chúng con, và cả hôm nay, xin Mẹ hãy mở rộng các cánh cửa ngõ hầu chân lý được hiển thắng, là thánh ý Thiên Chúa, phúc lộc và là ơn cứu độ đích thực cho thế gian”. Amen.

 

Tháng 1-2015

Linh mục Trần Ngọc Liên

Giáo phận Đà Lạt

Admin

Các tin khác:

Video
Tin mới